Giỏ hàng

Thung lũng Silicon ra trận

Ảnh: Edward Tuckwell 

Trong gần hai thập niên, Y Combinator là biểu tượng của Thung lũng Silicon (silicon valley) tiêu dùng: vườn ươm giúp khai sinh DoorDash, Coinbase, Airbnb, Instacart, Reddit và Gusto; đồng thời đại diện cho kỷ nguyên công nghệ Mỹ hứa hẹn đem lại tiện ích, kết nối và thế giới “mở hơn, gắn kết hơn”.
 
Tháng 8/2024, YC rẽ sang hướng khác. Lần đầu tiên trong lịch sử, tổ chức này tài trợ cho Ares Industries, startup vũ khí ở El Segundo, California. Mục tiêu của Ares là chế tạo tên lửa hành trình chống hạm giá rẻ, giúp Washington chuẩn bị cho cuộc chiến giả định tại eo biển Đài Loan. Dòng giới thiệu từng xuất hiện trên website YC về người đồng sáng lập Alex Tseng viết ngắn gọn: “tên lửa thật ngầu”.
 
Với nhiều người, drone chiến đấu và tên lửa không phải hình ảnh quen thuộc của Silicon Valley, nơi từng xây dựng mạng xã hội, ứng dụng gọi xe, giao đồ ăn và thương mại điện tử. Nhưng YC chỉ như lát cắt của chuyển dịch lớn: ngành công nghệ Mỹ từ bỏ sự ngại ngần với quốc phòng và công khai bước vào công nghệ chiến tranh.
 
Từ app tiêu dùng đến công nghệ quốc phòng
 
Alex Karp, đồng sáng lập Palantir năm 2003 cùng Peter Thiel và một số cộng sự, nhận xét Silicon valley đã “lạc lối” khi xem chính phủ Mỹ là trở lực của đổi mới. Trong cuốn sách viết cùng cố vấn pháp lý Nicholas Zamiska, ông phàn nàn việc những kỹ sư giỏi nhất của Mỹ dành tài năng cho ứng dụng giao hàng, trong khi lẽ ra có thể đóng góp cho sức mạnh quân sự quốc gia.
 
Dòng tiền phản ánh sự đổi hướng. Theo Crunchbase, từ 2019–2024, vốn đầu tư mạo hiểm (VC) vào các startup công nghệ quốc phòng Mỹ tăng hơn 10 lần lên khoảng 3 tỷ USD. Năm 2022, Saronic Technologies được thành lập tại Austin, tiến hành huy động 600 triệu USD nhằm chế tạo tàu chiến tự hành dùng AI. Shield AI, thành lập năm 2015, huy động 240 triệu USD mở rộng phần mềm tự hành cho drone và hệ thống máy bay quân sự; công ty ở San Diego này hiện được định giá 5,3 tỷ USD. Theo PitchBook, năm 2025, các thương vụ VC trong lĩnh vực quốc phòng đạt kỷ lục, với định giá tăng gấp đôi so với năm trước.
 
Anduril Industries, Công ty do Palmer Luckey, cha đẻ kính Oculus, sáng lập năm 2017 có trụ sở tại Costa Mesa, California, hiện được định giá 30,5 tỷ USD, vừa huy động thêm 2,5 tỷ USD và đang xây nhà máy vũ khí trị giá 1 tỷ USD ở Ohio. Tháng 9/2024, Palantir, doanh nghiệp cung cấp phần mềm phân tích cho quân đội và lực lượng thực thi pháp luật Mỹ, được đưa vào chỉ số S&P 50 .
 
Nguồn gốc quân sự của Thung lũng Silicon
 
Liên minh giữa Lầu Năm Góc và công nghệ Mỹ không mới. Đây là di sản của Chiến tranh Lạnh. Dù giới khởi nghiệp thường kể câu chuyện về tinh thần tự do và chống nhà nước, nhiều đổi mới nền tảng của Silicon valley được nuôi bằng ngân sách quốc phòng và tài trợ nghiên cứu liên bang.
 
Stanford là ví dụ điển hình. Dưới thời Fred Terman, trường trở thành trung tâm nhận tài trợ liên bang và cung cấp nhân tài khoa học cho các dự án quốc phòng. Năm 1951, Stanford nhận chưa tới 2 triệu USD từ hợp đồng chính phủ và tài trợ liên bang. Đến năm 1960, khi cuộc đua không gian với Liên Xô tăng tốc, con số này tăng hơn bốn lần, lên 8,3 triệu USD. Nhà sử học Rebecca S. Lowen gọi Stanford là “đại học Chiến tranh Lạnh”.
 
Các hợp đồng quốc phòng cũng nuôi ngành công nghiệp trong vùng. Stanford Research Institute, lập năm 1946, từng làm nghiên cứu điện toán cho khách hàng quốc phòng. Varian Associates sản xuất klystron cho radar và liên lạc quân sự. Năm 1957, khi nhóm “Tám kẻ phản bội” rời Shockley Semiconductor Laboratory và lập Fairchild Semiconductor, công nghệ bán dẫn tiên tiến nhất khi đó nằm trong vệ tinh và hệ thống dẫn đường tên lửa.
 
Trước thời máy tính cá nhân, nhà tuyển dụng lớn nhất của Santa Clara County là Lockheed Missiles and Space Company. Năm 1956, Lockheed mở cơ sở ở Sunnyvale nhằm thiết kế vệ tinh và tên lửa tuyệt mật cho kho vũ khí Chiến tranh Lạnh của Mỹ.
 
Từ phản chiến đến quay lại Lầu Năm Góc
 
Trong thập niên 1960, khi phong trào phản đối can thiệp quân sự vào Việt Nam nổ ra, sự hoài nghi với công nghệ quân sự dần lớn lên. Đến cuối Chiến tranh Lạnh, thế hệ hacker mới muốn không gian mạng mở, toàn cầu và tránh xa chính phủ. Họ phản đối kiểm soát xuất khẩu thuật toán mã hóa và chống Clipper Chip, phần mềm chính quyền Clinton muốn cài vào thiết bị liên lạc nhân danh an ninh quốc gia. Google từng có khẩu hiệu không chính thức “Đừng làm điều xấu”. Năm 2018, hơn 4.000 nhân viên Google phản đối Project Maven, dự án dùng AI phân tích ảnh drone cho Lầu Năm Góc, với lập luận “Google không nên kinh doanh chiến tranh”.
 
Nhưng vai trò quân sự của Silicon valley chưa bao giờ biến mất. Năm 2003, Palantir ra đời phục vụ cuộc chiến chống khủng bố. Intel, Oracle, Google và Microsoft vẫn theo đuổi hoặc hưởng lợi từ các hợp đồng quân sự và tình báo. Sau Maven, Google tiếp tục lặng lẽ quay lại với quốc phòng. Năm 2021, công ty tham gia Project Nimbus, hợp đồng điện toán đám mây với quân đội Israel, bất chấp lo ngại nội bộ về nguy cơ vi phạm nhân quyền ở Bờ Tây.
 
Quốc phòng thành thị trường mới
 
Điểm khác hiện nay là sự e dè đã biến mất. Sau thập niên 2010, các lĩnh vực từng hấp dẫn như thương mại điện tử, quảng cáo số, mạng xã hội và ứng dụng việc làm tự do bị bão hòa. Năm 2018, Peter Thiel từng nói, có lẽ không còn nhiều đột phá lớn trong Internet tiêu dùng: “Những ý tưởng lớn đều đã được thử.”
 
Trong khi đó, Mỹ bị cuốn vào chiến tranh ở Ukraine, Trung Đông và cạnh tranh nước lớn với Trung Quốc. Quốc phòng trở thành nơi các công ty công nghệ nhìn thấy lợi nhuận từ hợp tác công – tư, nhờ ngân sách quân sự ngày càng lớn. Năm 2022, Anduril từng viết, một chiếc Tesla có nhiều AI hơn bất kỳ xe quân sự nào của Mỹ; Snapchat có thị giác máy tính tốt hơn tất cả hệ thống Bộ Quốc phòng sở hữu; và đến năm 2019, kho hạt nhân Mỹ vẫn vận hành bằng đĩa mềm.
 
Tuy nhiên, phần lớn hợp đồng quốc phòng Mỹ vẫn rơi vào tay vài ông lớn như Lockheed Martin, General Dynamics và Boeing. Theo Silicon Valley Defense Group, chưa tới 1% tổng ngân sách Bộ Quốc phòng Mỹ đến với 100 công ty quốc phòng được VC hậu thuẫn. Năm 2025, nhóm này huy động hơn 70 tỷ USD vốn tư nhân, so với 29 tỷ USD giải ngân liên bang.
 
Silicon Valley muốn phá thế độc quyền, nhắm tới việc đảo ngược di sản của “Last Supper” năm 1993, khi Bộ trưởng Quốc phòng Les Aspin yêu cầu các nhà thầu hợp nhất để tồn tại. Số nhà thầu quốc phòng lớn từ hơn 50 giảm xuống chỉ còn 5 như hiện nay. Shyam Sankar, giám đốc công nghệ Palantir, gọi thời điểm mới là “Bữa sáng đầu tiên”, với lập luận: thiếu cạnh tranh làm suy yếu năng lực công nghiệp quốc phòng Mỹ.
 
Từ năm 2022, chiến tranh Ukraine giúp nhiều sản phẩm quốc phòng được VC hậu thuẫn bước vào thử nghiệm thực tế. Lầu Năm Góc cũng muốn trở thành “hệ sinh thái đổi mới thật sự”. Năm 2022, Office of Strategic Capital được lập dưới thời Tổng thống Biden nhằm thu hút vốn tư nhân và vượt qua “thung lũng chết” giữa đổi mới tư nhân và hợp đồng chính phủ.
 
Sau bầu cử năm 2024, mối liên kết càng rõ. Các nhân vật công nghệ bảo thủ tìm thấy đồng minh trong chính quyền của Tổng thống Trump. Elon Musk, với SpaceX, hiện trở thành nhà cung cấp tên lửa hàng đầu của Lầu Năm Góc. Trước lễ diễu binh tháng 6 kỷ niệm 250 năm thành lập Lục quân Mỹ, bốn lãnh đạo công nghệ, trong đó có Sankar, được phong hàm trung tá để đưa chuyên môn công nghệ vào chiến tranh tương lai.
 
Nghịch lý dân chủ
 
Với Thiel, sự cạn kiệt cơ hội trong mạng xã hội không đáng tiếc. Ông từ lâu luôn nhận định Internet không tạo ra tiến bộ công nghệ tương xứng với thế kỷ 20: “Chúng ta được hứa hẹn xe bay, nhưng nhận được 140 ký tự.” Nhà kinh tế Tyler Cowen cho biết từ thập niên 1970, Mỹ dần bị đình trệ về khoa học và công nghệ. Năm 1969, con người lên Mặt Trăng; năm 1976, máy bay siêu thanh chở khách giữa New York và London. Cách mạng số rất ấn tượng, nhưng sản xuất, năng lượng, giao thông và công nghệ sinh học chững lại.
 
Trong khi đó, Trung Quốc tăng tốc trong xe điện, robot, pin, drone, vệ tinh, lò phản ứng hạt nhân, dược phẩm và bán dẫn. Nhiều người trong ngành công nghệ Mỹ tin cạnh tranh với Trung Quốc giúp kích hoạt làn sóng đổi mới. Năm 2024, trong tiểu luận “Situation Awareness: The Decade Ahead” , Leopold Aschenbrenner, cựu nhà nghiên cứu OpenAI lập luận Mỹ phải đạt siêu trí tuệ (AGI), trước Bắc Kinh. Tháng 11/2024, Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung khuyến nghị Quốc hội tài trợ chương trình kiểu “Dự án Manhattan” nhằm giành năng lực AGI.
 
Các công ty AI Mỹ nhanh chóng nhập cuộc. đầu năm 2024, OpenAI, từng cấm dùng sản phẩm cho “phát triển vũ khí” và “quân sự, chiến tranh”, bỏ điều khoản này và nhận hợp đồng 200 triệu USD từ Bộ Quốc phòng Mỹ vào tháng 6; cùng tháng, Anthropic công bố Claude Gov cho các cơ quan quốc phòng và tình báo. Tháng 2/2025, Google xóa khỏi nguyên tắc AI từ năm 2018, cam kết không triển khai vũ khí AI hoặc hệ thống vi phạm luật quốc tế và nhân quyền.
 
Lập luận của Silicon Valley: công nghệ dân chủ phải thắng công nghệ độc tài. Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ các công ty Mỹ cũng đang thu lợi từ giám sát, kiểm soát và cưỡng chế. Palantir xây công cụ nhận dạng và giám sát phục vụ chiến dịch trục xuất người nhập cư không giấy tờ của Tổng thống Trump. Microsoft tiếp tục cung cấp đám mây và AI cho chính phủ Israel bất chấp lo ngại nhân đạo ở Gaza và Bờ Tây. Những ứng dụng ấy khó tương thích với các giá trị tự do được giới công nghệ quân sự hóa tuyên bố bảo vệ.
 
Silicon valley từng muốn kết nối thế giới, nhưng trong thời đại chủ nghĩa dân tộc công nghệ lại lựa chọn quay về với cội rễ quân sự, công khai và đầy tự hào.
 
 
shared via noema

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên