Vì sao phương Tây ngừng lấn biển?
26/06/26
![]() |
Từng có thời, nhiều phần đất quý nhất của các đô thị Mỹ nằm dưới nước; nhưng từ thập niên 1970, hoạt động lấn biển gần như biến mất, không phải vì hết chỗ hay hết công nghệ, mà vì luật môi trường khiến việc tạo thêm đất trở nên quá chậm và quá đắt.
Những đô thị được xây từ mặt nước
Không ít biểu tượng của nước Mỹ nằm trên đất lấn biển. Đầu thế kỷ 20, Đài tưởng niệm Lincoln, Đài tưởng niệm Thế chiến II và hồ Reflecting Pool ở Washington được xây trên vùng bãi triều sông Potomac. Năm 1939, Treasure Island ở vịnh San Francisco được tạo ra cho Triển lãm Quốc tế Golden Gate. Năm 1909, Northerly Island của Chicago được đắp từ hồ Michigan để hoàn thiện quy hoạch của Daniel Burnham.
Tính chung, thập niên 1890, khoảng 8% diện tích đất tại các đô thị duyên hải lớn của Mỹ từng nằm dưới nước. Con số này bao gồm đất dưới các sân bay như Newark, Logan và SFO, cũng như những khu vực đắt giá như Financial District ở San Francisco, Back Bay ở Boston và Camden ở Philadelphia. Một số thành phố, như Boston và Charleston, tăng gấp đôi diện tích nhờ lấn biển.
Ngày nay, đáng ra lấn biển phải phổ biến hơn, giá đất ở một số đô thị cao gấp 30 lần năm 1950, trong khi ngập do triều cường xảy ra thường xuyên gấp 4–8 lần. Lấn biển có thể vừa mở rộng, vừa bảo vệ các thành phố ven biển. Thế nhưng, kể từ năm 1976 khi Battery Park City hoàn tất, Mỹ không có thêm dự án lấn biển đô thị lớn nào, ngoài số ít dự án mở rộng cảng.
Không phải vì hết chỗ
Nguyên nhân quen thuộc vì những vị trí dễ lấn biển đã cạn. Điều này nghe hợp lý, nhưng không khớp với thực tế. Thế kỷ 5, Trung Quốc đã có lịch sử lấn biển từ lưu vực hồ Thái Hồ, nhưng vẫn dẫn đầu thế giới, chiếm gần 80% diện tích đất lấn biển toàn cầu trong thế kỷ 21. Từ năm 2000, các thành phố Trung Quốc trên một triệu dân tạo thêm diện tích tương đương 39 đảo Manhattan.
Mỹ cũng chưa thiếu lựa chọn. Cuối thế kỷ 19, khi Boston lấp Back Bay, độ sâu trung bình khoảng 6,1m. 2/3 vịnh San Francisco nông hơn mức này; South Bay cạnh Thung lũng Silicon sâu chưa đến 1,8m. Phần lớn cảng New York ngoài luồng tàu chính sâu dưới 3m. Vùng nước giữa Miami và Miami Beach cũng tương tự.
Độ sâu không phải giới hạn tuyệt đối nếu giá đất đủ cao. Monaco gần đây mở rộng diện tích thêm 3% bằng dự án Mareterra, phải nạo vét tới độ sâu khoảng 50m.
Giao thông không còn là lời giải thay thế
Nguyên nhân thứ hai vì giao thông hiện đại hay thế nhu cầu lấn biển. Khi đi bộ là phương tiện chính, các thành phố buộc phải mở rộng ngay sát trung tâm. Sau đó, tàu điện, ô tô và thang máy mở ra đất ngoại ô và không gian cao tầng, rẻ hơn nhiều so với đắp đất từ biển.
Nhưng lợi thế này đã yếu đi. Vùng đô thị New York hiện vươn xa khoảng 64km, tính từ Midtown Manhattan ở nhiều hướng, với thời gian đi lại hơn một giờ. Từ năm 1980, thời gian đi làm trung bình tăng 25%, trong khi chi phí xây đường cao tốc mỗi km hiện cao ít nhất gấp bốn lần năm 1960.
Quan trọng hơn, đất trung tâm có giá trị vượt xa đất ngoại ô. Năm 1955, California ước tính lấn gần 9,4 nghìn ha ở phía tây vịnh San Francisco có thể tốn khoảng 330.000 USD/ha theo giá 2025. Ngày nay, một ha đất quy hoạch nhà đơn lập tại San Francisco County có giá trung bình 24 triệu USD, cao hơn hơn 70 lần chi phí lấn biển ước tính ấy.
Bước ngoặt thập niên 1970
Điểm mấu chốt nằm ở thời điểm. Nếu nguyên nhân là địa lý hay công nghệ, lấn biển phải suy giảm dần và không đồng đều. Trên thực tế, sau năm 1970, các dự án gần như đồng loạt dừng lại. Trong 37 thành phố có dữ liệu, tất cả đều lấn biển chậm hơn sau mốc này; nhiều nơi như Seattle và Chicago giảm về 0.
Cùng thời gian đó, Mỹ thông qua rất nhiều luật môi trường: Đạo luật Chính sách Môi trường Quốc gia năm 1969 (NEPA), Đạo luật Nước sạch năm 1972, Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển năm 1972, Đạo luật Các loài nguy cấp năm 1973 và Đạo luật Bảo tồn, phục hồi tài nguyên năm 1976. Các luật này không cấm lấn biển trực tiếp, nhưng mọi dự án cần giấy phép liên bang đều phải vượt qua quy trình đánh giá môi trường kéo dài.
NEPA là rào cản lớn nhất. Các báo cáo môi trường, từ chỗ có thể chỉ vài chục trang, trở thành hồ sơ hàng nghìn trang. Riêng báo cáo cho kế hoạch thu phí ùn tắc của New York dài 900 trang, kèm 3.000 trang phụ lục, dù gần như không xây dựng lớn. Với lấn biển, Đạo luật Nước sạch buộc mọi dự án đổ vật liệu nạo vét xuống vùng nước hoặc đất ngập nước phải xin phép liên bang. Các báo cáo tác động môi trường của Công binh Lục quân Mỹ mất trung bình sáu năm, còn biện pháp bù đắp có thể tốn hàng trăm triệu USD.
Dự án mở rộng Craney Island ở Norfolk, Virginia cho thấy quy trình này kéo dài thế nào. Trong hai năm, từ 1956–1958, đảo gốc rộng hơn một nghìn ha được xây dựng, nhưng phần mở rộng được Quốc hội cho nghiên cứu từ 1997 phải mất chín năm hoàn tất báo cáo môi trường dài 1.400 trang. Sau nhiều vòng trì hoãn, dự án dự kiến hoàn tất “đúng tiến độ” vào năm 2065.
Cái giá của không xây thêm đất
Các luật môi trường ra đời xử lý vấn đề có thật: ô nhiễm công nghiệp, phá hủy khu dân cư, xa lộ đô thị và mất đất ngập nước. Nhưng sau nửa thế kỷ, chi phí tuân thủ phình to trong khi giá trị công trình không được xây ngày càng lớn.
Tại New York, San Francisco, Boston và Los Angeles, giá nhà hiện cao ít nhất gấp năm lần năm 1970; trên toàn nước Mỹ, mức tăng là ba lần. Lấn biển không giải quyết mọi vấn đề nhà ở, hạ tầng hay khí hậu, nhưng ở những đô thị năng suất nhất, có thể tạo thêm nhà ở, tăng hiệu quả giao thông và giúp các thành phố ven biển chống chịu tốt hơn trước mực nước biển dâng. Vì vậy, việc phương Tây không còn tạo thêm đất không phải tất yếu tự nhiên, mà là lựa chọn chính sách.
shared via works in progress,



